LỤC HOA GIÁP


LỤC HOA GIÁP

          Độc giả vô cùng yêu quý

          Tiếp cận với văn hóa Đông phương chúng ta gặp ngay ngày giờ tốt xấu tuổi gì làm ăn thế nào mệnh xấu tốt ra sao. Nhập môn Đông phương học người ta bắt đầu từ Thái cực ( âm dương ) sau đó đến Ngũ hành ( Kim mộc thủy hỏa thổ ) tiếp theo là Tứ tượng ( Xuân Hạ Thu đông ) tiếp theo là Bát quái ( Càn Khảm Cấn Chấn Tốn Ly Khôn Đoài ) mà Bát quái lại biến hóa vô cùng.....

          Hôm nay xin giớ thiệu với mọi người về Luc Hoa Giáp

          Mục này xem từng năm hành gì nếu con cái đẻ vào năm đó là mệnh gì ? khắc căn mệnh nào....

          Vui cuối tuần Mong độc giả thứ lỗi

 

 

Việc sắp đặt thành lục thập hoa giáp là công của Đại Nạo thị nhưng việc nạp âm lại do Quỷ Cốc Tử. Ngài tên là Vương Hũ ẩn thân tu dưỡng tại hang quỷ cốc rừng Thanh Lâm vào cuối đời nhà Châu vì thế người đời mệnh danh là Quỷ Cốc Tử. Nối tiếp sự nghiệp của Quỷ Cốc Tử Man - Xiến Tử tức là Đông phương Sóc mới hoàn thành tượng và danh từ lục thập hoa giáp.

- Giáp Tý - Ất Sửu là Hải Trung Kim.
Tý thuộc thuỷ lại là hồ nơi vượng của thuỷ và cũng là nơi tử của kim kim gặp mộ ở Sửu. Thuỷ vượng mà Kim thì tử mộ do đó mới lấy tenlà Hải trung kim. Hình kim đi vào thuỷ lộ tính yếu thể mạnh.

- Bính Dần - Đinh Mão là Lô Trung Hoả:
Dần là tam dương Mão là tứ dương nơi đây hoá đắc vị lại được Dần Mão mộc sinh hoả. Lúc đó trời đất là lò muôn loài mới sinh cho nên mới gọi là Lô Trung Hoả. Trời đất là lò âm dương là than. Hình tới dương địa thế lực càng tăng núi non cao vút.

- Mậu Thìn - Kỷ Tỵ là Đại Lâm mộc:
Thìn là đồng ruộng Tỵ là lục dương mộc đến chỗ lục dương thời cành lá xum xuê cho nên lấy tên là Đại Lâm mộc tiếng reo khắp chín phương trời bóng che muôn dặm. Nơi đây rồng rắn tàng hình khí tụ thành hình lộ ra mộc.

- Canh Ngọ Tân Mùi là Lộ bàng thổ: ở trong Mùi có Mộc và sinh cho ngọ Hỏa thàng vượng. Vì Hỏa quá vượng nên mùi thổ bị hình do đó thổ ở đây không đủ khả năng để sinh dưỡng vạn vật đó là thể chất của đất ven đường.

- Nhâm Thân -Quý Dậu là Kiếm phong kim: Thân Dậu là chính vị của Kim và Kim đến cung Thân là Lâm quan ở đây Kim ở thế sinh vượng nên thật cứng rắn kim cứng rắn không gì hơn là ở mũi kiếm vì thế gọi là Kiếm phong Kim.

- Giáp Tuất - Ất Hợi là Sơn đầu Hỏa: Tuất Hợi là cửa Trời hỏa chiếu ở cửa trời thời ánh sáng cao vọi cho nên mới gọi là Sơn Đầu hỏa.

- Bính Tý - Đinh Sửu là Giản hạ thủy: Thủy vượng ở Tý suy ở Sửu vượng rồi lại suy thời khó thành sông biển cho nên lấy tên là giản hạ thủy (nước dưới khe).

- Mậu Dần - Kỷ Mão là Thành đầu thổ: Mậu kỷ thuộc Thổ Dần thuộc cung Cấn là núi vì vậy đất chưa thành núi mới lấy tên là đất trên chóp thành.

- Canh Thìn - Tân Tỵ là Bạch lạp kim: Kim gặp dưỡng ở Thìn sinh ở Tỵ hình chất mới thành chưa được rắn cứng vì vậy gọi là vàng sáp ong.

- Nhâm Ngọ - Quý Mùi là dương liễu mộc: Mộc gặp Tử ở cung ngọ và mộ ở mùi mộc ở vào thế Tử Mộ dù có được thiên can là Nhâm Quý sinh cho cũng chỉ là loại mộc yếu ớt vì thế lấy tên là Dương liễu mộc.

- Giáp Thân - Ất Dậu là Tuyền trung thủy: Kim gặp lâm quan ở Thân đế vượng ở Dậu kim ở thế sinh vượng thời nhờ đó mà thủy được sinh. Nhưng thủy ở vào lúc mới sinh lực lượng chưa lớn cho nên lấy tên là nước trong suối.

- Bính Tuất - Đinh Hợi là ốc thượng thổ: Bính đinh thuộc hỏa Tuất hợi là thiên môn hỏa đã bốc cháy lên thời thổ không thể sinh ra ở dưới cho nên lấy tên là đất trên nóc nhà.

- Mậu Tý - Kỷ Sửu: là Tích lịch hỏa: Sửu thuộc Thổ Tý thuộc Thủy Thủy ở Tý là chính vị vậy mà nạp âm lại là Hỏa như vậy trừ phi Hỏa này là do Long thân sinh ra thời không có Hỏa nào khác cho nên lấy tên là lửa sấm sét.

- Canh Dần - Tân Mão là Tùng bá mộc: Mộc gặp lâm quan tại Dần Đế vượng ở Mão Mộc ở thế sinh vượng thời không thể so sánh với những loại mộc yếu ớt cho nên gọi là Tùng bá mộc.

- Nhâm Thìn - Quý Tỵ là Trương Lưu Thủy: Thìn là Mộ khố của Thủy Tỵ là trường sinh của Kim Kim sinh Thủy Thủy được tồn trữ ở Thìn lại được Kim sinh ở Tỵ dòng suối không bao giờ hết cho nên mệnh danh là dòng nước chảy dài mãi mãi.

- Giáp Ngọ - Ất Mùi là Sa Trung Kim: Ngọ là nơi Hỏa vượng Hỏa vượng thời kim phải nát Mùi là nơi Hỏa suy mà Kim lại ở vào vị trí quan đới. Kim ở vào thế bại và quan đới chưa có khả năng công phạt nên gọi là vàng lẫn cát.

- Bính Thân - Đinh Dậu là Sơn Hạ Hỏa: Thân là Địa Hộ (cửa của đất vì thân thuộc quẻ Khôn) Dậu là vị trí Mặt trời đi vào bóng tối mặt trời đến đấy thời ánh sáng bị che khuất nên gọi là lửa dưới núi.

- Mậu Tuất - Kỷ Hợi: là Bình địa Mộc: Tuất được coi là đồng ruộng (giống như Thìn) Hợi là vị trí sinh của Mộc. Mộc đã sinh ở đồng ruộng bao la thời không chỉ giới hạn ở một cây một gốc nên gọi là Mộc ở bình nguyên.

- Canh Tý - Tân Sửu là Bích thượng thổ: Sửu là vị trí chính của Thổ nhưng Tý là nơi vượng của Thủy. Thổ mà gặp chỗ nhiều Thủy thời là đất bùn dùng để trát vách nên mới gọi là đất trên vách.

- Nhâm Dần - Quý Mão là Kim Bạch Kim: Dần Mão là nơi Mộc vượng Kim suy kim hoàn toàn bất lực cho nên gọi là vàng thếp (dùng để dát chữ trên câu đối hoành phi...)

- Giáp Thìn - Ất Tỵ là Phú đăng hoả: Thìn là lúc dùng bữa Tỵ là mặt trời lên khá cao mặt trời sắp đến ngọ thì ánh sáng rực rỡ tràn ngập bầu trời ví như ngọn đèn chụp treo lơ lửng giữa nhà.

- Bính Ngọ - Đinh Mùi là Thiên hà thuỷ: Bính Đinh thuộc hoả ngọ là vị trí vượng của Hoả thế mà nạp âm là thuỷ như vậy là thuỷ bắt nguồn từ hoả trừ phi thuỷ ở sông ngân sông hán trên trời thời không có thứ thuỷ nào khác vì vậy gọi là Thuỷ ở thiên hà.

- Mậu Thân - Kỷ Dậu là Đại dịch thổ: Thân nằm trong vị trí của quẻ Khôn Khôn là đất . Dậu nằm trong vị trí quẻ Đoài đoài là chằm (???). Mậu Kỷ cũng là Thổ lại vào ở vị trí của đất và chằm tất nhiên là loại đất phù sa mỏng manh nên gọi là Đại dịch Thổ (chữ Dịch theo nghĩa cận đại là trạm dùng để đưa thư).

- Canh Tuất - Tân Hợi là Thoa xuyến kim: Kim đến Tuất thì gặp suy đến Hợi gặp Bệnh. Kim mà gặp suy bệnh là thứ vàng non yếu nên gọi là vàng để trang sức.

- Nhâm Tý - Quý Sửu là Tang đố mộc: Tý thuộc thuỷ Sửu thuộc Kim (Thân - Tý - Thìn Thuỷ Tỵ - Dậu - Sửu Kim) Mộc ở đây vừa được Thuỷ sinh nhưng lại bị Kim khắc giống như cây dâu được tưới nước cho xanh tốt rồi dùng dao mà chặt cho nên gọi là Tang đố mộc (cây dâu) rất sợ gặp kim.

- Giáp Dần - Ất Mão là Đại Khê Thuỷ: Dần và Mão đều thuộc phương Đông nước chảy về Đông là thuận dòng chảy nên nước ở sông ngòi ao đầm đều nhập lại mà chảy theo nên gọi là đại khê thuỷ (khê là nước từ các khe núi chảy xuống).

- Bính Thìn - Đinh tỵ là Sa trung thổ: Thổ gặp mộ khố ở Thìn mà tuyệt ở Tỵ. Vậy mà Bính ĐInh là Hoả gặp quan đới ở Thìn lâm quan ở Tỵ Thổ gặp mộ tuyệt nhờ gặp Hoả vượng mà tái sinh nên gọi là thổ ở trong cát.

- Mậu Ngọ - Kỷ Mùi là Thiên Thượng Hoả (đời xưa gọi là Viên thượng hoả). Ngọ là vị trí vượng của Hoả Mộc ẩn ở trong Mùi lại có cơ hội sống lại (1). Đặc tính của Hoả là bốc lên nên gọi là lửa trên trời.

- Canh thân - Tân Dậu là Thạch lựu Mộc: Thân là tháng bảy Dậu là tháng tám. Ở vào thời điểm này nói chung các lại mộc đều tiêu điều vì lâm vào vị trí tuyệt chỉ có cây thạch lựu là kết quả vào tháng 7 tháng 8. Vì vậy mới lấy tên là Thạch lựu mộc.

- Nhâm Tuất - Quý Hợi là Đại Hải thuỷ: Tuất là vị trí quan đới của Thuỷ và Hợi là vị trí Lâm quan. Ở vị trí này lực lượng của Thuỷ rất hùng hậu. Hơn nữa Hợi cũng là sông lớn không thể so sánh với thuỷ ở khe suối nên gọi là đại hải thuỷ.

            Quá trình sinh khắc của Ngũ hành: Hỏa khắc Kim; Kim khắc Mộc; Mộc khắc Thổ; Thổ khắc Thủy; và Thủy khắc Hỏa. Nhưng nếu theo Lục Hoa Giáp thì hông nhất thiết phải như vậy. Đọc cuốn " Tích hợp Đa văn hóa Đông Tây cho một chiến lược giáo dục tương lai" cuả Cụ Nguyễn Hoàng Phương (khoảng những Năm 80 của thế kỷ trước có " băng Hoàng Phương" băng Cát xét mà nhiều người vẫn lưu tryền )thì :

NĂM

 

HÀNH HOA GIÁP

 

KHẮC HÀNH

Giáp tý - Ất sửu

 

Hải Trung Kim.

 

Bình Địa Mộc

Bính Dần - Đinh Mão

 

Lô Trung Hoả:

 

Kiếm Phong Kim

 Mậu Thìn - Kỷ Tỵ

 Đại Lâm mộc:

 

 

Đại dịch Thổ

Canh Ngọ Tân Mùi

Lộ bàng thổ:

 

Tuyền Trung Thủy

Nhâm Thân -Quý Dậu

Kiếm phong kim

 

Phục Đăng Hỏa

Giáp Tuất - Ất Hợi

Sơn đầu Hỏa

 

Sa Trung Kim

Bính Tý - Đinh Sửu

Giản hạ thủy

 

Thiên thượng Hỏa

- Mậu Dần - Kỷ Mão

Thành đầu thổ

 

Thiên thượng Thủy

Canh Thìn - Tân Tỵ

Bạch lạp kim

 

Phục đăng Hỏa

Nhâm Ngọ - Quý Mùi

dương liễu mộc

 

Lộ Bàng Thổ

- Giáp Thân - Ất Dậu

Tuyền trung thủy

 

Thiên thượng Hỏa

Bính Tuất - Đinh Hợi

ốc thượng thổ

 

Thiên thượng Thủy

Mậu Tý - Kỷ Sửu

Tích lịch hỏa:

 

Thiên thương Thủy

Canh Dần - Tân Mão

Tùng bá mộc

 

Lộ Bàng Thổ

Nhâm Thìn - Quý Tỵ

Trương Lưu Thủy

 

Thiên thựng Hỏa

Giáp Ngọ - Ất Mùi

Sa Trung Kim

 

Thạch Lựu Mộc

Bính Thân - Đinh Dậu

Sơn Hạ Hỏa

 

Tích lịch Hỏa

Mậu Tuất - Kỷ Hợi

Bình địa Mộc

 

Sa Trung Kim

Canh Tý - Tân Sửu

Bích thượng thổ

 

Thiên thượng Thủy

Nhâm Dần - Quý Mão

Kim Bạch Kim

 

Lô Trung Hỏa

Giáp Thìn - Ất Tỵ

Phục đăng Hỏa

 

Thoa xuyến Kim

Bính Ngọ - Đinh Mùi

Thiên hà thuỷ

 

Thiên thượng Hỏa

Mậu Thân - Kỷ Dậu

Đại dịch thổ

 

THiên thượng Thủy

Canh Tuất - Tân Hợi

Thoa xuyến kim

 

Đại Lâm Mộc

Nhâm Tý - Quý Sửu

Tang đố mộc

 

Ốc Thượng Thổ

Giáp Dần - Ất Mão

Đại Khê Thuỷ

 

Sơn Hạ Hỏa

Bính Thìn - Đinh tỵ

Sa trung thổ

 

Dương Liễu Mộc

Mậu Ngọ - Kỷ Mùi

Thiên Thượng Hoả

 

Sa Trung Kim

Canh thân - Tân Dậu

Thạch lựu Mộc

 

Bích Thượng Thỏ

Nhâm Tuất - Quý Hợi

 Đại Hải Thủy Khắc Thiên thượng Hỏa

Nguyễn Hồng Khoái

Gửi Chanh Rum:
Túm lại là người tuổi Canh: da rắng hồng giống mẹ. Người tuổi Canh nhất là tuổi Canh Tý có " Uy chế ngự" . Con cái hay con trai hàu như quen là quen gọi là họ rất sợ cái quen thắm thiết với người Canh tý
Mậu Thìn là con người có tương hợp vô duyên nếu đẹp trai ( đẹp gái ) hay chơi với người lớn tuổi hơn mình. Đó là nét chính của tuổi này. Người này da sạm nắng khỏe lực lưỡng.
Giáp Tuất người làm được việc
Hơi nóng nảy mọt chút
Thế thôi nhé Xem voi ở xa mà

chanhrhum

LỤC HOA GIÁP coi bộ khó hiểu quá anh ạ. Túm lại là Tốt Xấu thế nào hả anh? Canh Tý? Mậu Thìn? Giáp Tuất? Ba cục cưng của em đó!

Nguyễn Hồng Khoái

Anh Hà Đình Chung kính mến
Dễ thôi anh Chung. Ví như tuổi Kỷ sửu là Tích Lịch hỏa chỉ khắc được Thiên thượng Thủy ( đáng lẽ ra hỏa phải khắc Kim nhưng chẳng khắc được Kim nào cả); nhưng Tích lịch hỏa lại bị Sơn hạ hỏa khắc ( Bính thân Đinh Dậu ) mà chẳng bị cái Thủy nào khắc cả
Kính anh vui

hadinhchung

Chào NHK :
***

Đọc cứ như bị lạc vào ma trận suýt nữ không tìm được đường về DĐ cũng mất song luôn.
Thầy phải giải hộ .Kẻo "tẩu hỏa nhập ma" thì toi