Thưa chư vị Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện hiện đang là phó Giám đốc thư viên Hán Nôm có mấy bài khấn ngày tết. Mạn phép anh tôi trình cùng bạn đoc
Thưa chư vị, Nhân dịp đón Tết Nguyên Đán Canh Dần, xin cúng hiến quý vị những bài văn cúng trong dịp Tết, do tôi sưu tầm được. Hôm nay là 22 Tết, tôi đưa sớm các bài này lên để chư vị sắp xếp in ra để dùng, vì không phải nhà nào cũng có máy in.
VĂN KHẤN LỄ GIAO THỪA NGOÀI TRỜI
Nam mô A Di Đà Phật! ( 3 lần ) Kính lạy : - Đức Đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật - Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn Thần. - Ngài Cựu Niên Đương cai Hành khiển. - Đương niên Ngụy Vương Hành Khiển; Mộc Tinh chí đức tôn thần, Tiêu Tào phán quan năm Canh Dần. - Các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch, Táo Quân, chư vị tôn thần. Nay là phút giao thừa năm Mậu Tý Chúng con là................. Ngụ tại ...................... Phút thiêng giao thừa vừa tới, năm cũ qua đi, đón mừng năm mới, tam dương khai thái, vạn tượng canh tân. Nay Ngài Thái Tuế tôn thần trên vâng lệnh Thượng Đế giám sát vạn dân, dưới bảo hộ sinh linh tảo trừ yêu nghiệt. Quan cũ về triều đế khuyết, lưu phúc lưu ân. Quan mới xuống thay, thể đức hiếu sinh, ban tài tiếp lộc. Nhân buổi tân xuân, tín chủ chúng con thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án. Cúng dâng Phật Thánh, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương, dốc lòng bái thỉnh. Chúng con kính mời: Ngài Cựu niên Đương cai, Ngài Tân niên Đương cai Thái Tuế Chí đức Tôn thần, Ngài Bản cảnh Thành Hoàng, Chư vị Đại Vương, Ngài Bản xứ Thần Linh Thổ Địa, Phúc Đức Chính Thần, các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long mạch Tài Thần, các Bản gia Táo Quân và chư vị Thần Linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Nguyện cho tín chủ: Minh niên khang thái, trú dạ cát tường. Thời thời được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng. Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám. Cẩn cáo.
Ghi chú: Ngoài việc đứng trước bàn thờ (ngoài sân) khấn nguyện theo nội dung trên, quý vị sau khi cúng nên hóa bản văn khấn ngay rồi tưới một ít rượu cúng lên để gửi đến Ngài Đương niên hành khiển. Vì khi ấy trên trời đang nhộn nhịp gấp gáp diễn ra các cuộc bàn giao, nên có thể các Ngài không kịp nghe lời tâu bày thỉnh nguyện, nếu quý vị hóa văn bản này tức là đã kịp gửi văn bản thì sau Tết, rảnh rang, các ngài Thư ký sẽ trình lên Ngài Đương niên.
VĂN KHẤN LỄ GIAO THỪA TRONG NHÀ
Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần) Kính lạy: - Đức Đương Lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật - Hoàng Thiên, Hậu Thổ chư vị tôn Thần. - Long Mạch, Táo Quân, chư vị Tôn Thần. - Các cụ Tổ Tiên nội, ngoại chư vị tiên linh. Nay phút giao thừa năm Canh Dần, Chúng con là........................... Ngụ tại............................................. Phút giao thừa vừa tới, nay theo vận luật , tống cựu nghênh tân, giờ Tý đầu Xuân, đón mừng Nguyên Đán, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, cúng dâng Phật Thánh, dâng hiến Tôn Thần, tiến cúng Tổ Tiên, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh.
Chúng con xin kính mời:
Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương, Ngài Bản xứ Thần Linh Thổ Địa, Phúc Đức Chính Thần, các Ngài Ngũ phương, Ngũ thổ, Long Mạch Tài Thần, các Ngài Bản gia Táo Quân và chư vị Thần Linh cai quản ở trong xứ này. Cúi xin giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Con lại kính mời các cụ tiên linh Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá thúc huynh đệ, Cô di tỷ muội, nội ngoại tộc chư vị hương linh cúi xin giáng về linh sàng hâm hưởng lễ vật. Tín chủ lại kính mời các vị vong linh Tiền chủ, Hậu chủ, y thảo phụ mộc ở trong đất này. Nhân tiết giao thừa, giáng lâm trước án chiêm ngưỡng tân xuân, thụ hưởng lễ vật. Nguyện cho tín chủ: Minh niên khang thái, trú dạ cát tường. Thời thời được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng. Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám. Cẩn cáo.
VĂN KHẤN THẦN LINH TRONG NHÀ (MÙNG 1)
Nam Mô A Di Đà Phật!(3 lần) Kính lạy: - Đức Đương Lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật. - Phật Trờ , Hoàng Thiên Hậu Thổ. - Chư vị Tôn Thần. Hôm nay là ngày mồng 1 tháng Giêng, nhằm ngày Tết Nguyên Đàn đầu xuân, giải trừ gió đông lạnh lẽo, hung nghiệt tiêu tan, đón mừng Nguyên Đán xuân thiên, mưa móc thấm nhuần, muôn vật tưng bừng đổi mới. Nơi nơi lễ tiết, chốn chốn tường trình. Tín chủ con là ................................ Ngụ tại .............................................. Nhân tiết minh niên sắm sửa hương hoa, cơm canh lễ vật bày ra trước án, dâng cúng Thiên Địa Tôn Thần. Thiết nghĩ Tôn Thần hào khí sáng loà, ân đức rộng lớn. Ngôi cao vạn trượng uy nghi, vị chính mười phương biến hiện. Lòng thành vừa khởi, Tôn Đức cảm thông. Cúi xin giáng lâm trước án, chứng giám lòng thành thụ hưởng lễ vật. Nguyện cho chúng con mọi người hoan hỷ vinh xương, con cháu cát tường khang kiện. Mong ơn Đương Cảnh Thành Hoàng, đội đức Tôn Thần Bản xứ. Hộ trì tín chủ, gia lộc gia ân, xá quá trừ tai. Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối, sự nghiệp hanh thông, sở cầu như ý. Dãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám. Cẩn cáo.
VĂN KHẤN TỔ TIÊN NGÀY MÙNG 1 TẾT
Nam Mô A Di Đà Phật! Kính lạy: - Đức Đương Lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật . - Các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, Bá thúc huynh đệ, Cô di tỷ muội, đường thượng tiên linh các hương hồn nội tộc, ngoại tộc. Nay theo Tuế luật, Âm Dương vận hành tới tuần Nguyên Đán, mồng Một đầu xuân mưa móc thấm nhuần, đón mừng năm mới. Con cháu tưởng niệm ân đức Tổ Tiên, như trời cao biển rộng, khôn đem tấc cỏ báo ba xuân. Do đó chúng con cùng toàn thể con cháu trong nhà sửa sang lễ vật, oản quả hương hoa kính dâng lên trước án. Kính mời các cụ Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, Bá thúc đệ huynh, Cô di tỷ muội, nam nữ tử tôn nội ngoại. Cúi xin thương xót con cháu, linh thiêng giáng về linh sàng, hâm hưởng lễ vật. Phù hộ độ trì cho con cháu năm mới an khang, mọi bề thuận lợi, sự nghiệp hanh thông. Bốn mùa không hạn ách nào xâm, tám tiết có điềm lành tiếp ứng. Tín chủ lại mời: các vị vong linh, tiền chủ , hậu chủ ở trong đất này cùng về hâm hưởng. Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám. Cẩn cáo.
VĂN KHẤN LỄ TẠ NĂM MỚI (MÙNG 3)
Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần) Kính lạy: - Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn Thần. - Ngài Đương niên, Ngài Bản Cảnh Thành Hoàng, các Ngài Thổ Địa, Táo Quân, Long Mạch Tôn Thần - Các Tổ Khảo, Tổ Tỷ, nội ngoại tiên linh. Hôm nay là ngày mồng Ba tháng Giêng năm Canh Dần
Tín chủ chúng con .......................... Ngụ tại .......................................... Thành tâm sửa biện hương hoa phẩm vật, phù tửu lễ nghi, cúng dâng trước án. Kính cẩn thưa trình: Tiệc xuân đã mãn, Nguyên Đán đã qua, nay xin thiêu hoá kim ngân, lễ tạ Tôn Thần, rước tiễn tiên linh trở về Âm giới. Kính xin: lưu phúc lưu ân, phù hộ độ trì, dương cơ âm mộ, mọi chỗ tốt lành. Cháu con được chữ bình an, gia đạo hưng long thịnh vượng. Lòng thành kính cẩn, lễ bạc tiến dâng, lượng cả xét soi, cúi xin chứng giám. Cẩn cáo.
Một vài lời dặn dò thêm: Năm Canh Dần là năm Ngụy Vương hành khiển, khi dâng lễ vật cúng bái nên tránh để dao, vật nhọn, gậy gộc trên mâm lễ và xung quanh. Mùng 1 Tết, xuất hành hướng Tây Nam. Chúc nhau tân xuân đại cát. Ngày kỵ thần tài, không nên chúc giàu sang. Mùng 2 và mùng 3 không tốt. Việc gì cũng không nên làm. Mùng 3 không cắt tóc, không mở hàng. Không an táng. Mùng 4 mở hàng, giá thú, đi xa, nạp thái (ăn hỏi), di chuyển, đặt giường. Kính chúc chư vị đón Tết Canh Dần giản dị, trang nghiêm, thành tâm và đúng nghi lễ!
05 tháng 02 năm 2010 Nhằm tiết Lập Xuân đầu năm Canh Dần Bỉ nhân: Nguyễn Hồng Khoái Sao lục Cẩn cáo
19 Nov, 2009
CẦN LUẬN THUYẾT THÍCH HỢP CHO VIỆT NAM PHÁT TRIỂN MẠNH
CẦN LUẬN THUYẾT THÍCH HỢP CHO VIỆT NAM PHÁT TRIỂN MẠNH
Trường Giang
Bước sang thế kỷ mới, thực tiễn đã vượt lên, chúng ta có trách nhiệm phải nhận thức lại, tìm hiểu nghiên cứu, rút ra những cái mới từ thực tiễn hiện đại; điều chỉnh bổ sung cho lý thuyết kinh điển phù hợp với hoàn cảnh đương đại.
LTS: Nhân dịp Ban Tuyên giáo Trung ương mở cuộc vận động tìm chủ thuyết phát triển cho đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh, CTV Trường Giang gửi bài viết hưởng ứng. Để tôn trọng tính đa chiều của truyền thông, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết thể hiện quan điểm riêng của ông. Mời độc giả cùng thảo luận.
Đảng ta ngay trong những ngày đầu thành lập đã chọn một học thuyết làm ngọn cờ lý luận cho hoạt động cách mạng của mình: học thuyết Mác - Ăng-ghen. Chúng ta đã thực hiện học thuyết Mác thành công trong những bước đi ban đầu theo tinh thần vận dụng sáng tạo của Lê-nin. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh của chúng ta đã tinh tường hiểu được tinh thần chống áp bức bóc lột, mang lại tự do cơm áo cho người lao động của Mác, đã nhanh chóng nắm bắt thấm nhuần cương lĩnh giải phóng dân tộc thuộc địa của Lê-nin, đã cùng Đảng dẫn dắt toàn dân đứng dậy, phá tan xiềng gông của thực dân Pháp, phát xít Nhật, bè lũ phong kiến phản động và chống lại thắng lợi cả bọn đế quốc Mỹ xâm lược sau này.
Công cuộc đấu tranh, giành độc lập tự do của nhân dân Việt Nam đã trở thành một tấm gương chói sáng, góp phần tích cực động viên các dân tộc thuộc địa ở các châu lục vùng lên tự giải phóng mình. Bản đồ thế giới đã được vẽ lại với nhiều thay đổi sáng sủa. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao rõ rệt.
Nhưng đáng tiếc, dường như chúng ta chưa hiểu thật đầy đủ ý tưởng của Mác, Ăng-ghen - hai học giả vĩ đại của thế kỷ 19. Và đặc biệt khi bước sang những thập niên cuối thế kỷ 20, thực tiễn đã có nhiều biến đổi lớn, nhất là về kinh tế, khoa học - công nghệ, các mối quan hệ xã hội, bang giao quốc tế..., công việc nghiên cứu lý luận của ta vẫn chìm đắm trong chiều hướng triển khai, hiện thực hoá những chuẩn mực có sẵn trong học thuyết kinh điển của thế kỷ 19 mà chưa mạnh dạn nghiên cứu cái mới của của hiện tại để xây dựng những chuẩn mực mới, điều chỉnh, bổ sung, thậm chí xoá bỏ những chuẩn mực cũ đã lỗi thời, lạc hậu. Thỉnh thoảng, một vài cán bộ quản lý vẫn còn lớn tiếng phê phán những nghiên cứu trái với chiều hướng suy nghĩ truyền thống hoặc phân tích khác với lý thuyết kinh điển.
"Cần luận thuyết thích hợp cho Việt Nam phát triển mạnh?"
Mác viết bộ Tư bản (le Capital) tập 1 thời còn trẻ. Nội dung bộ sách này đến với ta sớm và được khai thác phát huy mạnh mẽ. Nhưng dù sao, bộ sách đó (Tư bản - tập 1) cũng mới chỉ là những suy nghĩ bước đầu về chủ nghyĩa tư bản khi Mác - Ăng-ghen chỉ mới biết đến 3 nước tư bản Đức, Pháp, Anh trong thời kỳ sơ khai của chủ nghĩa Tư bản và cũng chỉ mới qua cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất.
Đến sau này, khi nhiều tuổi, có một số điều kiện thuận lợi, Mác có đi rộng ra một số nơi (Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ...), tiếp xúc mới một số tập đoàn tư bản, một số học giả lớn, đọc sách của Hê-ghen, Saint Simon, Aritstote, Khổng Tử, Nho giáo, Phật giáo, thấy rõ vai trò của khoa học công nghệ, Mác có thêm cơ sở thực tế và lý luận để tư duy sâu sắc và chính xác hơn về chân dung chủ nghĩa Tư bản và cuộc cách mạng vô sản. Mác đã tự phủ định một số ý kiến đã viết hoặc phát biểu trong thời trẻ của mình. Song thời kỳ này, Mác đã già yếu và cũng nghèo hơn, Ăng-ghen cũng không còn giúp được nhiều như trước vì bà vợ cũng kinh doanh thua lỗ. Do vậy, Mác, Ăng-ghen không tự in ấn phát hành sách được như tập 1 bộ Tư bản; tập 2, 3 cũng chỉ còn ở dạng bản thảo chưa hoàn chỉnh, Mác chỉ tranh thủ viết báo, phát biểu tại một số diễn đàn, đặc biệt tranh luận ở câu lạc bộ Pru-đông... Tất cả những tài liệu này nằm lang thang ở các nước châu Âu, chỉ đến Việt Nam bằng sự ghi chép vào sổ tay của một số người ham hiểu biết.
Về già, Mác và cả Ăng-ghen đã đặt lại những vấn đề khá cơ bản như nhấn mạnh quyền tự do cá nhân (ngay trong tuyên ngôn đảng cộng sản, bản thảo thứ nhất, thứ hai, Mác đều ghi bằng chữ đậm: "sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho phát triển tự do của cộng đồng", chứng tỏ Mác rất coi trọng tự do cá nhân. Ý này Mác đã phát biểu rất nhất quán tại câu lạc bộ Pru-đông nhiều lần. Từ đó, ta có thể khẳng định Mác từ sau 1860, không hề có tư tưởng xây dựng một chế độ thủ tiêu hoàn toàn mọi quyền cá nhân. Phải chăng ở đây có sự hiểu lầm khi truyền bá lại hay dịch sai từ Community của Mác. Điều này dẫn chúng ta đến một số sai lầm thu hẹp quyền sở hữu cá nhân, quyền tự do cá nhân lúc này nơi này, lúc khác nơi khác.
Nói về chuyên chính vô sản, nói về phương thức đấu tranh, thời trẻ, Mác và Ăng-ghen thường hay nói đến bạo lực, coi đó là phương thức duy nhất, là bà đỡ của lịch sử nhưng đến thời già, cả Mác và Ăng-ghen đều suy nghĩ lại và khẳng định chủ yếu là bằng hoà bình, giai cấp công nhân mà đại diện là đảng cộng sản sẽ thắng do sự gương mẫu và tư tưởng tiên tiến của mình. Đây là một sự chuyển biến về tư tưởng cách mạng của 2 vị.
Về luận điểm kinh tế mà thời trẻ, Mác và Ăng-ghen hay nói, cho rằng kinh tế là quyết định tất cả, hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc, vật chất quyết định tinh thần... thì khi về già, 2 ông đã tự phủ định. Ăng-ghen nói : "xét đến cùng mới là kinh tế". Ý nói cứ giành chính quyền, xây dựng thượng tầng kiến trúc, xác định chính thể, rồi sẽ định hướng xây dựng kinh tế. Nếu xem kinh tế là nền móng thì phải biết cái toà lầu bên trên gồm có mấy tầng, cấu trúc như thế nào thì mới tính được kết cấu nền móng. Tinh thần, có khi tác động rất lớn đến vật chất. Mác đồng tình với Hê-ghen luận điểm này. Đây cũng là một thay đổi lớn trong cách nhìn nhận sự vật về sự tương quan của chúng. Ý tưởng đó của 2 ông cũng chưa đến Việt Nam.
Đặc biệt, trong những tháng ngày cuối đời, khi thấy sức khoẻ của mình đã sút kém nhiều, Mác đã phát biểu nhắn nhe lại với những người trong phong trào cộng sản một cách thiết tha, rằng những điều ông dự đoán cho một xã hội sau chủ nghĩa tư bản là những điều có thể xảy ra chứ không phải là những điều tất yếu phải xảy ra. Và thật buồn, nếu có ai đó sau này cứ lắp lại y nguyên những điều trong sách hay tài liệu để lại của ông.
Chính chúng ta không thấm nhuần tinh thần này nên đã không coi trọng nghiên cứu cái mới trong thực tiễn hiện nay để xem xét lại những chuẩn mực trong các luận thuyết kinh điển. Rõ ràng thực tiễn mới đã vượt lên, không ít những vấn đề trong học thuyết Mác cần phải được điều chỉnh, bổ sung.
Mác khẳng định mâu thuẫn giai cấp, đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội, thúc đẩy sự vận động của lịch sử. Mác phân tích giai cấp Tư bản (những ông chủ) bóc lột đến tận xương tuỷ giai cấp vô sản (những người làm thuê) nên bùng nổ thường xuyên cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt. Chính giai cấp vô sản là tác nhân lịch sử, là kẻ đào mồ chôn chủ nghĩa Tư bản. Mác phân tích Tư bản bóc lột công nhân, tích luỹ tư bản chủ yếu là thu lợi nhuận từ thặng dư giá trị tức là phần lao động dư thừa không được hưởng tiền công của người lao động. Tầng lớp chủ ngày càng giàu lên và người làm thuê ngày càng nghèo đói; mâu thuẫn giai cấp ngày càng sâu sắc; do đó cuộc đấu tranh giai cấp ngày càng gay gắt, mạnh mẽ dẫn đến cuộc cách mạng vô sản.
Thực tế ngày nay, sự chênh lệch giàu nghèo giữa chủ và thợ vẫn còn nhưng mối quan hệ giữa chủ và thợ không căng thẳng như ngày xưa. Nhiều ông bà chủ cũng biết rút kinh nghiệm, điều chỉnh thái độ và chính sách quyền lợi đối với thợ thuyền. Ở một số nước, trong thợ thuyền, có một số người giàu lên, có xe hơi, có nhà tầng, có tiền mua cổ phiếu khá nhiều, trở thành cổ đông lớn, tham gia và Hội động quản trị nhà máy hoặc công ty. Phần tích luỹ của chủ từ cái mà Mác gọi là thặng dư giá trị không đáng là bao so với phầnlợi lộc từ sự cải tiến tổ chức sản xuất, cung cách quản lý, áp dụng khoa học, kỹ thuật mới, sử dụng công nghệ tiên tiến... Tính hợp tác thân thiện giữa chủ và thợ gnày càng tăng. Mâu thuẫn giữa chủ với thợ và cuộc đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn đó vẫn còn nhưng không thành một cuộc chiến diệt nhau, dẫn đến một cuộc cách mạng bằng bạo lực, chôn vùi chủ nghĩa tư bản. Chính khoa học, công nghệ đang phát triển gia tốc, ngày càng đóng vai trò động lực chủ yếu thúc đẩy mọi sự phát triển xã hội, thúc đẩy sự vận động của lịch sử. Cái mới này trong thực tiễn đang sáng rực lên như một viên ngọc thời đại. Không khái quát, đúc kết nó thành một quy luật mới, xoá bỏ nhận thức cũ đã lỗi thời là có tội với lịch sử.
Có một vấn đề mà Mác nhắc đến như một sản phẩm của chủ nghĩa Tư bản và sẽ chấm dứt, bị chôn vùi cùng với chủ nghĩa Tư bản bằng cuộc cách mạng vô sản là kinh tế thị trường. Không, thực tiễn mới cho thẩy sức sống bền vững của nền kinh tế thị trường. Nó là sản phẩm của lịch sử đương đại, nó đang trở thành một dòng chảy mạnh tạo đà cho lịch sử phát triển, gia tốc, tạo môi trường cho hàng hoá, của cái vật chất ngày càng dồi dao, phong phú, đưa nhân loại đến một thế giới văn minh, phồn thịnh. Nó không thể bị chấm dứt. Chủ nghĩa tư bản cũng không phải đang giãy chết. Nó đang tự biến đổi mình, thích hợp dần với tính chất của thời đại. Tên của chính thể, tên của chủ nghĩa không còn là sự quan tâm nhiều của mọi người. Mục tiêu xã hội, nội dung cuộc sống (giàu mạnh, văn minh, độc lập, tự do, dân chủ) mới là sự lựa chọn thực sự của nhân loại tiến bộ, của lương tri con người. Đó là một nhận thức mới, một bài học thời đại. Thực tiễn mới không cho phép ta nuôi giữ những quan niệm cũ đã trở thành lạc hậu.
Mác đã từng tiên đoán, thế giới cuối cùng đều đi đến chủ nghĩa cộng sản. Mác tư duy theo 5 hình thái kinh tế xã hội, theo quy luật tất định. Nhưng thực tế ngày nay, với sự phát triển phi thường của khoa học kỹ thuật, với sự sáng tạo phi thường của con người, với sự biến đổi đa dạng, nhanh chóng, bất ngờ của thiên nhiên mà con người không thể kiểm soát hết được thì quy luật tất định không còn là nhận thức hiện đại. Hiện nay ta không có thể khẳng định được chủ nghĩa cuối cùng của loài người là chủ nghĩa gì. Trí óc của con người đang cố vươn tới làm chủ tương lại nhưng khẳng định là tương lai đã nằm trong tay ta là một sự ngộ nhận, là ảo tưởng.
Nói những điều trên đây là để tự kiểm điểm lại mình chứ không phải để phê phán Mác. Mác đã quá vĩ đại. Giữa giai đoạn lịch sử, con người còn mù mịt về nhận thức xã hội như thế mà Mác đã mổ xẻ phân tích chủ nghĩa tư bản được như thế là một thành tựu khai trí lớn lao đến nhường nào. Nhưng bây giờ ta nghiên cứu thực tiễn mới để kiến lập một luận thuyết mới thích hợp với thời đại, tạo điều kiện cho đất nước phát triển mạnh là trách nhiệm thiêng liên của con người có trách nhiệm với đời.
Cần xây dựng một luận thuyết hiện đại, thích hợp với Việt Nam phát triển. Đó là mệnh lệnh của thời đại. Một luận thuyết mang tính tổng hợp, kết tinh cao tri thức của nhânloại thế kỷ 21, đặc biệt là những ý tưởng triết học mới của những cái đầu tư duy thông minh, hiện đại mà hàm chứa đủ những tinh hoa còn thơm ngắt của kho tàng tư tưởng kinh điển trong quá khứ... sẽ là ngọn cờ, là kim chỉ nam hành động của toàn dân ta trên con đường đi tới tương lai. Luận thuyết đó phải bao gồm 6 nội dung lớn sau đây:
1. Mục tiêu xã hội là xây dựng một cuộc sống giàu mạnh văn minh, dân chủ độc lập.
Có người hỏi một xã hội thực hiện được những mục tiêu ấy gọi là xã hội gì, theo chủ nghĩa gì? Tôi không quan tâm đến việc đặt tên. Mác, Ăng-ghen gọi chủ nghĩa cuối cùng của loài người là chủ nghĩa cộng sản. Tôi thấy mục tiêu của chủ nghĩa cộng sản mà Mác, Ăng-ghen nêu lên là quá đẹp đẽ nhưng cái tên cộng sản thì tôi không thấy thể hiện đúng cái nội dung cao đẹp ấy. Một xã hội đáp ứng được mọi mong muốn của con người không nhất thiết phải cộng tất cả tài sản con người lại. Cũng đã có người nghi ngờ khả năng dịch thuật của các học giả châu Á thời trước. Các từ Community, communist, communisme mà Mác dùng không phải để diễn đạt ý tưởng đó. Ý cộng sản, cộng thê là ý của Ô-oen, Phua-riê gán cho lý thuyết Mác để phê phán Mác.
Tôi thiết nghĩa, chúng ta chỉ cần xác định đúng mục tiêu và quyết tâm thực hiện cho kỳ được mục tiêu đó là đạt lắm, để quá nhiều thì giờ tranh cãi về cái tên thì chẳng ích gì.
2. Tổ chức một bộ máy nhà nước pháp quyền nhân dân, một hệ thống tổ chức chính trị chặt chẽ, có năng lực hoạt động, tập hợp được rộng rãi các tầng lớp xã hội, phát huy đặc biệt giới trí thức và doanh nghiệp, coi đây là 2 lực lượng nòng cốt của xã hội hiện đại.
3. Tập trung đẩy mạnh sản xuất bằng công nghệ cao, tăng nhanh số hàng hoá chất lượng, thực hiện kế hoạch thương mại đa phương, hoà nhập vào cuộc giao lưu quốc tế tích cực.
4. Thiết lập một cơ chế xã hội khoa học, hợp lý, thông thoáng, phát huy được mọi tài năng, bảo đảm được sự bình đẳng, tự do chân chính của mọi công dân, bảo đảm cho hoạt động của nhà nước theo nguyên tắc tam quyền phân lập, cho các tổ chức chính trị xã hội được hoạt động một cách chủ động độc lập theo ý nguyện của lòng dân để tạo nên sự đồng thuận xã hội cao, một quyết tâm mạnh mẽ của toàn xã hội, xoá bỏ tiêu cực, bảo vệ và xây dựng đất nước.
5. Hết sức coi trọng xây dựng nền khoa học công nghệ hiện đại và phát triển với quy mô lớn nền giáo dục năng động, đào tạo ngày càng có hiệu quả các nguồn lực giầu sức sáng tạo, xoá bỏ nhanh chóng thực trạng tiến dích dắc của ngành khoa học công nghệ nước ta và thảm trạng trì trệ bảo thủ của ngành giáo dục hiện nay. Trên thực tế, không có một sự phát triển nào mà không sử dụng kết quả của giáo dục, không áp dụng khoa học, công nghệ mới. Do đó, khoa học, công nghệ và giáo dục phải luôn luôn được coi là ưu tiên hàng đầu, là động lực chủ yếu thúc đẩy sự vận động lịch sử nhanh chóng đi tới tương lai.
6. Xây dựng một nền kinh tế thị trường phồn thịnh, lành mạnh. Nền kinh tế thị trường là sản phẩm của lịch sử hiện đại - nó có sức sống mạnh mẽ, có giá trị trường tồn và luôn luôn biến đổi theo xu hướng thời đại và chính sách của mỗi nhà nước. Không nên quan niệm nó chỉ là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản và càng không nên coi số phận của nó chỉ gắn liền với chủ nghĩa tư bản. Sức sống của nó, vú nuôi của nó là hệ thống sản xuất hàng hoá.
Nền kinh tế thị trường của chúng ta chấp nhận có cạnh tranh, thậm chí có lúc, có nơi cạnh tranh quyết liệt, mạnh mẽ nhưng tuyệt đối không tiêu diệt nhau, không có hiện tượng cá lớn nuốt cá bé, không có chuyện đấu tranh một mất một còn. Cạnh tranh ở một nền kinh tế thị trưòng lành mạnh là yếu tố kích thích phát triển, có kết hợp với hợp tác nên kết quả cuối cùng thường là dắt nhau cùng tiến, cùng lên tầng cao.
***
Tóm lại Mác, Ăng-ghen, Lê-nin, Hồ Chí Minh đã mở ra con đường cách mạng đúng đắn. Chúng ta đã học tập và làm theo một cách tích cực, nghiêm túc. Bước sang thế kỷ mới, thực tiễn đã vượt lên, chúng ta có trách nhiệm phải nhận thức lại, tìm hiểu nghiên cứu, rút ra những cái mới từ thực tiễn hiện đại; điều chỉnh bổ sung cho lý thuyết kinh điển phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đương thời. Đây cũng là điều mong muốn của các bậc tiền bối.
Gần đây, Ban Tuyên giáo Trung ương cũng có mở cuộc vận động tìm chủ thuyết phát triển cho đất nước trong thời đại Hồ Chí Minh. Hy vọng bài viết này được coi là sự hưởng ứng tích cực lời kêu gọi của Đảng ta.
Hôm nay mở trang của Nguyễn Vĩnh Tiến tôi gặp một bài thơ hay, cuộc sống năm mươi năm trước của tôi hiện về . Xin mời các bạn cùng thưởng thức
MỘT CÁNH CHUỒN CHUỒN
Bỗng dưng... một cánh chuồn chuồn Lấy của tôi một nỗi buồn bay đi Để cho hoa lá ùa về, Để tôi lạc giữa bốn bề là tôi...
Tuổi thơ ơi, tuổi thơ ơi Sao tôi gọi mãi mà người không thưa? Xin người một chút xa xưa... Sao tôi chỉ nhận nắng mưa bây giờ?
Tóc đen nhớ tóc râu ngô Nhớ ngày chân ướt chân khô giữa đồng Nhớ bàn tay tuốt đòng đòng Không thương một tấm lưng còng - Mẹ tôi...
Mẹ tôi - mười mấy năm trời Dọn đường, sửa lối cho tôi đến trường Tôi đi chân đất mẹ thương Bây giờ nhiều lối trên đường tôi đi.
Nợ duyên với tuổi chơi bi Tuổi đôi khi lấy bút chì làm khăng Tuổi đốt đuốc để soi trăng Tuổi nằm mơ thấy chị Hằng rồi...yêu!
Tuổi hay giả tiếng mèo kêu Tuổi thường cắt chỉ cho diều theo mây Tuổi trèo cây để tập bay Tuổi - bắt chước - uống rượu say rồi cười.
Ông tôi vẫn chỉ lên trời Bảo rằng trên ấy: "Một thời vàng son" Bao nhiêu những cái méo tròn Nếu đem cộng lại chỉ còn số không.
Bấy giờ tôi chẳng nghe ông Toàn đem những cái mênh mông về nhà Tôi yêu giàn mướp của bà Cái kim mẹ giữ - chậu hoa bố trồng Yêu bài thơ mới viết xong Dẫu bạn bè đọc, bảo: Không hiểu gì!
Vui từ nơi ấy ra đi Buồn từ nơi ấy lần về trong tôi Chiều nay, nắng cạn giữa trời Thu về nhắc khéo một thời đã qua.
Thời gian nghiệt ngã - đậm đà Tuổi thơ tôi, vẫn chỉ là của tôi Nhớ thương loang cả bầu trời Tan mây, hoang gió để Đời xanh hơn
Bỗng dưng - một cánh chuồn chuồn Trao cho tôi: Một nỗi buồn trong veo...
Học giả Nguyễn Đồng Chi, sinh ngày 6-1-1915 nguyên quán là làng Đông Thượng, xã Hậu Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là nhà nghiên cứu văn học, sử học, văn hoá dân gian, nổi tiếng với bộ sách Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam và nhiều tác phẩm khác. Ông làm Viện trưởng Viện Hán Nôm thời kỳ 1978-1981, được phong Giáo sư Văn học năm 1984. Ông qua đời tại Hà Nội ngày 20-7-1984, thọ 70 tuổi.
Tuy chênh nhau đến 28 tuổi, nhưng Nguyễn Đổng Chi không lạ Phan Khôi bởi nhiều lẽ. Khi Nguyễn Đổng Chi bắt đầu nghiên cứu văn học và văn hoá dân gian, thì trước đó rất lâu ông đã nghe tiếng Phan Khôi cũng như đọc nhiều bài báo của ông về nhiều lĩnh vực. Rồi trong kháng chiến chống Pháp, công việc nghiên cứu giúp họ biết nhau nhiều hơn.
Cuối tháng 10-1954, Phan Khôi chuyển về Hà Nội và làm việc ở Hội Văn nghệ, còn Nguyễn Đổng Chi sau một thời gian lao đao trong cải cách ruộng đất, đến năm 1955 mới được đưa về Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa. Những năm sau đó là khoảng thời gian Nguyễn Đổng Chi đang ở độ tuổi sung sức, sự dày công sưu tầm, tích luỹ, nghiên cứu bao lâu nay đã đến độ chín, bút lực nơi ông trở nên sung mãn, và nhờ thế, ông trở nên nổi tiếng. Ngược lại, Phan Khôi đã bước vào tuổi thất thập, tài cũng đã gần chạng vạng như ông tự nhận, và quan trọng hơn là chỉ ít lâu sau ông rơi vào vòng xoáy của vụ Nhân văn - Giai phẩm. Trên các tập Giai phẩm, Phan Khôi đăng bài Phê bình lãnh đạo văn nghệ, truyện ngắn Ông bình vôi, một chùm ba bài thơ Hớt tóc trong bệnh viện quân y, Hồng gai và Nắng chiều. Ông nhận lời mời của các văn nghệ sĩ trẻ chủ chương tờ Nhân Văn để làm Chủ nhiệm của tờ báo này mặc dầu ông không tham gia bất cứ việc gì của tờ báo. Trên báo Văn của Hội nhà văn, ông đăng truyện ngắn Ông Năm Chuột. Sự xuất hiện của Phan Khôi trong cái gọi là Nhân văn - Giai phẩm của các năm 1956 - 1958 chỉ có thế. Đến ba, bốn chục văn nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu trong quân đội, ngoài dân sự, các vị giáo sư ở các trường đại hoc, già có, trẻ có, đã tham gia viết bài cho hai ấn phẩm nói trên đều bị coi là mắc vào nhiều tội, nhưng tội chung là phản động. Nhiệm vụ đặt ra là phải vạch rõ chân tướng bọn phản động này, đấu tranh tiêu diệt tư tưởng độc hại của chúng và phải xử lý nghiêm khắc từng người tuỳ theo tội trạng nặng, nhẹ. Phan Khôi bị liệt vào hàng đầu sỏ, bị coi là có tội nặng, nhưng vì ông tuổi cao, uy tín cũng cao nên chỉ bị hai lần điều đến chỗ ở kém tiện nghi hơn, bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn, và nghe nói là còn bị cấm công bố tác phẩm.
Đã có nhiều người viết nhiều bài phê phán, chửi rủa, thoá mạ Phan Khôi, thậm chí dựng đứng nhiều chuyện cho ông, nhưng như vậy vẫn chưa đủ. Cần có những bài nghiên cứu đi sâu vào học thuật cũng theo chủ đề ấy để giúp mọi người thấy rõ hơn Phan Khôi là kẻ phản động không phải chỉ ở đầu môi chót lưỡi, mà ngay trong chiều sâu tư tưởng, trên tầm cao lý luận ông ta cũng phản động lắm. Có khó mấy cũng phải tìm cho ra cái tội ấy. Ai cũng đã có việc của người ấy rồi, chỉ còn Nguyễn Đổng Chi, và thế là ông được nhắm đến.
Nguyễn Đổng Chi và con trai ông - Nguyễn Huệ Chi, lúc đó đang là sinh viên khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, trong học thuật, đối xử với nhau bình đẳng như bạn bè, có gì cũng trao đổi với nhau. Khoảng tháng 3-1958, nhân một ngày chủ nhật, hai bố con ông cùng đi chơi phố, từ Ô Đống Mác lên phố Tràng Tiền là nơi có nhiều hiệu sách cả quốc văn lẫn ngoại văn. Đến ngã tư Tràng Tiền rẽ về phía Nhà Hát Lớn, tới gần hiệu Bôđêga, nhìn thấy hai bên đường có những tờ báo treo thòng xuống là chỗ bán sách báo, như sực nhớ ra, Nguyễn Đổng Chi nói với con trai:
Ông Liệu - tức nhà sử học Trần Huy Liệu, Trưởng Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa, thủ trưởng trực tiếp của Nguyễn Đổng Chi - có nói với bố là: Phan Khôi thì rõ là sai rồi, bởi vì tự dưng lại đứng ra làm Chủ nhiệm báo Nhân Văn, để cho anh em trẻ nhân danh đòi tự do cho văn nghệ mà thoát lý đường lối lãnh đạo của Đảng, cho nên Phan Khôi phải chịu trách nhiệm về việc ấy. Thế nhưng đối xử với Phan Khôi như thế là không được, bởi vì Phan Khôi là một học giả nổi tiếng và một tri thức lão thành, không thể đánh đồng với những người khác.
Gần 1 tháng sau, một buổi chiều Nguyễn Đổng Chi đi làm về, thái độ lặng lẽ khác với ngày thường, chỉ đi đi lại lại mà không nói gì, rõ ra là ông đang bận tâm vào một điều gì đó. Người con trai hỏi bố:
- Hôm nay có chuyện gì mà bố có vẻ ưu tư thế? Người bố đáp:
- Bố mới nhận một nhiệm vụ khó nghĩ quá. Người con hỏi nhiệm vụ gì, thì ông trả lời:
- Phải phê phán Phan Khôi. Người con ngạc nhiên, hỏi lại:
- Ủa sao hôm trước bố đã nói thế rồi kia mà? Người bố đáp:
- Nhưng hôm nay thì yêu cầu đặt ra là Tập san Văn Sử Địa phải có một bài phê phán Phan Khôi mà bố được lãnh cái trách nhiệm ấy.
Mấy hôm sau thì Nguyễn Đổng Chi bắt đầu đi thư viện rất miệt mài, đơn giản chỉ vì muốn phê phán Phan Khôi về phương diện học thuật thì phải biết ông ta đã viết gì, nói gì về phương diện ấy, mà về chuyện học thuật thì Phan Khôi đã bàn về quá nhiều lĩnh vực, biết chọn lĩnh vực nào? Khoảng nửa tháng sau, có vẻ là đã tìm ra đề tài, ông nói với con trai:
- Bố sẽ cố gằng chỉ nói về Phan Khôi trong giai đoạn từ 1945 về trước mà thôi. Còn giai đoạn sau, bố không nói, bởi vì xem ra, những bài ông ấy viết trên các báo vừa rồi thì không có gì để nói được. Là bởi vì ông ấy phê phán lãnh đạo văn nghệ, mà việc ông ấy phê phán một cái tập thể ấy có còn đạt được tiêu chuẩn gì gọi là dân chủ, gọi là công bằng nữa hay không? Thì bố thấy ông Phan Khôi nói chuyện ấy rõ là được chứ. Cho nên bố chỉ khoanh lại, nói về ông ấy từ 1945 trở về trước cho tiện.
Thật tội cho nhà học giả, về tri thức và lương tâm, rõ ràng là ông đã không thể làm được cái việc bị giao, nhưng vẫn phải làm, vì vậy muốn làm được thì phải vận dụng toàn bộ trí tuệ học giả của mình để làm một việc thậm ít trí tuệ là bới lông tìm vết. Người con chờ đợi bài viết của người bố với lòng tin rằng ông chỉ phê phán một cách chừng mực thôi. Khi viết xong bài Quan điểm phản động, phản khoa học của Phan Khôi phải chăng là học mót của Hồ Thích? Nguyễn Đổng Chi đưa cho con xem thì anh hơi bị choáng vì thấy cha mình viết với lời lẽ nặng quá. Vì kính trọng bố, người con không nói gì, vả lại bấy giờ anh cũng nghĩ Phan Khôi sai mặc dù anh chưa biết được nhiều lắm về cụ. Anh tự trấn an: Một người nghiêm cẩn như bố mà phê phán đến thế, thì chắc là phải đúng. Bài này sau đó đăng trong Tập san Văn Sử Địa số 41 tháng 6-1958.
Chuyện đến đó coi như xong, mãi lâu sau bố con họ không đả động đến nữa. Thế nhưng có một lần, nhân câu chuyện gì đó, Nguyễn Đổng Chi có nói lại với người con trai:
- Bố ân hận quá, đã nói những chuyện không đúng về cụ Phan Khôi, bởi vì cụ Phan Khôi từ trước cách mạng đã được dư luận coi là Ngự sử văn đàn, là một người rắn rỏi, cứng cỏi, thẳng thắn. Ngay với chính quyền thực dân Pháp từ thập kỷ 20 ông ấy đã dám nêu lên nhiều vấn đề xã hội, chính sách cai trị của họ mà không sợ. Cho nên những điều ông ấy viết bao giờ cũng có tính chất đối thoại với người khác. Mà đối thoại chính là cái biểu hiện của sự dân chủ. Vì thế mà bố nghĩ, bố đã phê phán trúng vào chỗ đó thì chính là bố đã theo đuôi để góp phần đưa đến không khí mất dânchủ trong cái bài của bố.
Bây giờ nghe thuật lại điều này, chúng ta bắt đầu nhận ra sự can đảm của một nhà tri thức, chia sẻ với ông sự trầm ngâm rất lâu sau câu ông vừa nói với người con trai. Chắc chắn là ông đau lắm, nhưng ông cố nuốt nỗi đau vào trong để nó tiếp tục chà xát lương tri ông, để nó không cho ông sống yên ổn. Chẳng ai bắt ông phải làm thế, nhưng ông tự bắt mình phải làm thế, như là một sự sám hối. Và ông đã đi từ sự trăn trở, quặn đau để rồi đạt đến sự giải thoát, thanh thản. Giây phút ấy loé lên thứ ánh sáng của lương tri được bảo toàn, một lương tri hiếm thấy vào thời ấy ở những trí thức như ông.
Mùa xuân năm 1984, lần đầu tiên Nguyễn Đổng Chi được cử đi nghiên cứu ở Liên Xô chừng 2 tháng, ông không chịu nổi cái giá rét của xứ bạch dương, nên khi về bị ốm khá nặng. Nguyễn Huệ Chi đến thăm bố. Thấy con đến, như chỉ chờ có thế, Nguyễn Đổng Chi nói tiếp câu chuyện tưởng đã dừng lại từ ngày nào:
- Bố thấy ở Liên Xô có hai điều đáng lưu ý: Một là việc nghiên cứu Đông phương học của họ đến nơi đến chốn, chứ không phải là nóng đâu phủi đấy như chúng ta. Họ giải quyết việc gì cũng rất hệ thống. Nhưng điều thứ hai bố thấy họ có chỗ này không được: tức là họ vẫn đặt công việc nghiên cứu vào một đường rãnh (chính trị - khi thuật lại, GS Nguyễn Huệ Chi thêm vào cho rõ ý người nói) mà mọi người đều phải trượt trên cái rãnh ấy; cuối cùng thì người nào cũng quy về một điểm mà không còn nhìn thấy sự đa dạng trong nghiên cứu nữa.
Đến khi khỏe lại rồi, Nguyên Đổng Chi vẫn tiếp tục mạch chuyện ấy với người con trai, ông nói:
- Thật ra nước mình không phải là một nước có lý luận và cũng không có triết học, chỉ là một nước thực tiễn thôi. Cho nên việc nóng đâu phủi đấy là chuyện bình thường. Và việc mà bố gán cho Phan Khôi là học mót cái thực dụng của Hồ Thích mà Hồ Thích thì học mót của J.Dewey, là sai. Bởi vì một chủ nghĩa thực dụng như của J.Dewey nhìn cho thấu đáo là lớn lắm chứ không thể coi thường, và chuyện ông Hồ Thích cắt gọt chỗ này chỗ khác, ông ấy áp dụng vào Trung Hoa cho đúng theo điều kiện thực tiễn của Trung Hoa, cái đó cũng bình thường. Còn chúng ta vốn quen học lại của Trung Hoa cũng chẳng có gì lạ. Do đó, nói rằng Phan Khôi đã học mót Hồ Thích và Hồ Thích thì đã học mót J.Dewey, là một lời phê phán quá nóng vội.
Rồi ông dặn lại người con:
- Sau này nếu có điều kiện thì con cố gắng làm thế nào sửa được cái sai lầm của bố.
Ghi nhớ lời bố dặn như là một di chúc, GS Nguyễn Huệ Chi càng về sau càng thấy những lời bố mình nói là rất đúng, và theo ông, sự ân hận của bố ông là sự ân hận của một người có lương tri, có tư cách của một người trí thức. Đã có nhiều người gợi ý với ông nên làm toàn tập Nguyễn Đổng Chi, nhưng ông chỉ cười, không nói gì. Không nói gì, bởi vì ông biết là chưa thể làm được. Đã làm toàn tập thì nhất định phải đưa hết các bài nghiên cứu của tác giả vào, dù hay dù dở, tức là phải có cái bài không vẻ vang gì cho bố ông là bài phê phán Phan Khôi. Ông quyết không giấu diếm ai hết, để bạn đọc thấy rõ cái bài đó đã làm gì cho bố ông xấu hổ như thế nào.
Công khai lời bố dặn, đã là sự can đảm và trung hiếu của người con đối với bố. Ở đây, Nguyễn Huệ Chi còn làm hơn thế. Trong thời gian biên tập bộ Từ điển Văn học - Bộ mới, nhận lời uỷ thác của Văn Tâm-một người cũng lao đao trong thời Nhân văn-Giai phẩm-ông đã bổ sung, chỉnh sửa lại mục từ "Phan Khôi" do Văn Tâm viết từ nhiều năm về trước, sau này Văn Tâm rất muốn sửa mục ấy đi cho đúng thực chất, giá trị của đối tượng mình viết, nhưng bệnh tật không cho Văn Tâm kịp làm. Tuy rằng nhận lời uỷ thác của Văn Tâm, nhưng trong thâm tâm mình, Nguyễn Huệ Chi muôn tự mình thực hiện lời di chúc của bố để rửa mối nhục mà bố ông đã bị buộc phải gây ra cho mình.
Cũng trong Từ điển văn học - Bộ mới, các mục từ viết về những tác gia Nhân văn - Giai phẩm, ông rất quan tâm và đều có sửa chữa hoặc trực tiếp viết để ít nhất cũng lấy lại được cái nhìn tương đối đúng đắn - tương đối thôi chứ vẫn chưa nói được hết giá trị thực mà họ có. Cũng ở cuốn từ điển này, ông tự mình đảm nhiệm mục "Hồ Thích", cốt là để giải oan phần nào cho cái gọi là chủ nghĩa thực dụng (le pragmatisme) học mót J.Dewey của Hồ Thích mà bố ông đã cực lực phê phán.
Sự khả kính của hai bậc thức giả là cha và con khiến người viết bài này tự hỏi: chẳng lẽ chỉ vì vướng cái đinh gỉ là bài phê phán Phan Khôi cách đây những 50 năm, mà công trình Nguyễn Đổng Chi toàn tập cứ phải dừng lại, và dừng đến bao giờ? Bạn đọc thân mến, xin đảm bảo rằng, từ nhỏ chí lớn, chúng tôi - người viết bài này và GS Nguyễn Huệ Chi - chưa hề biết nhau. Nghĩa là mọi việc ở đây đều là khách quan, minh bạch.
(Mách mẹo: Sau khi bấm vào tên bài, sẽ hiện một trang có đường dẫn tới bài, nằm trong khuôn Web adres, bấm tiếp vô chữ Surf!ở cuối dòng đường dẫn, là được)
VIỆT NAM đứng đâu trong bảng xếp hạng LIÊN HỢP QUỐC ?
Việt Nam đứng sau hầu hết các nước Asean
Theo một phúc trình mới ra của Liên Hiệp Quốc, nước tốt nhất để sống trên thế giới là Na Uy, trong khi nơi tệ nhất là Niger.
Việt Nam đứng thứ 116 trong bảng xếp hạng chất lượng cuộc sống của các công dân tại 182 quốc gia.
Các tiêu chí trong chỉ số xếp hạng về Phát triển Con người (HDI) của LHQ tập trung vào ba yếu tố chính là tuổi thọ trung bình, học vấn, và mức sống.
Tuy nhiên, bản Phúc trình về Phát triển Con người 2009 của LHQ lại dựa trên các dữ liệu thu thập được từ năm 2007, trước khi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra.
So với khu vực
Việt Nam đứng sau hầu hết các nước trong khối Đông Nam Á, Asean, chỉ trên Lào (133), Campuchia (137) và Miến Điện (138).
Theo dữ liệu thu thập năm 2007, tuổi thọ trung bình của người Việt Nam là 74.3, tỉ lệ biết đọc biết viết là 90.3%, và tỉ lệ GDP trên đầu người là 2600USD.
Trên Việt Nam năm bậc là Indonesia (111) rồi đến Philippines (105), Thái Lan (87), Malaysia (66) và các nước khác.
Trung Quốc xếp ở vị trí 92, được cho là có cải thiện rất nhiều do mức thu nhập cũng như tuổi thọ người dân gia tăng.
Các nước Đông Á vẫn xếp hạng cao, với Nhật ở vị trí thứ 10 và Hàn Quốc đứng thứ 26. Singapore đứng thứ 23, chỉ sau Anh Quốc hai bậc.
Cách biệt
Các nước đầu bảng
1. Na Uy
2. Australia
3. Iceland
4. Canada
5. Ireland
6. Hà Lan
7. Thụy Điển
8. Pháp
9. Thụy Sỹ
10. Nhật Bản
Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc nói chỉ số này cho thấy sự cách biệt lớn giữa các nước giàu và các nước nghèo.
Na Uy thường xuyên đứng cao trong bảng xếp hạng của LHQ - vốn được thực hiện từ năm 1990 đến nay. Mức sống cao tại Na Uy phần lớn là nhờ việc tìm thấy dầu khí ngoài khơi nước này vào cuối thập niên 1960.
Trong khi đó, Niger là nước thường xuyên chịu hạn hán tại châu Phi, và nhiều khi phải chật vật để có thể nuôi sống các công dân của mình.
Các nước khác được xếp cao trong bảng xếp hạng là Úc (thứ hai) và Iceland (thứ ba).
Tuy nhiên, mức sống tại Iceland đã thay đổi nhiều kể từ khi dữ liệu được thu thập, vì đây là một trong những nước bị thiệt hại nặng nề nhất vì cuộc khủng hoảng tín dụng.
Trong các nước đội sổ, trên Niger một bậc là Afghanistan, và tiếp đó là Sierra Leone.
Tuổi thọ trung bình tại Niger là 50, tức là thấp hơn tuổi thọ trung bình tại Na Uy khoảng 30 năm.
Chỉ số này còn cho thấy một nửa dân số tại 24 quốc gia nghèo nhất được cho là mù chữ.
Trong khi thừa nhận chỉ số này không phải là một cách đo lường toàn diện về phát triển con người (như thiếu các tiêu chí về bất bình đẳng giới và thu nhập, tôn trọng nhân quyền, tự do chính trị..vv...), những gì HDI đưa ra là cái nhìn về những tiến bộ trong một số lĩnh vực nhất định, cũng như mối quan hệ phức tạp giữa thu nhập và phúc lợi của người dân.
Khô như Kế toán mà cũng có thơ! kể cũng hơi ngồ ngộ.
Xin được công bố một bài thơ chép được ở trên mạng không rõ của ai. Tôi đêm trình làng trong lúc đang ở xa Hà Nội mấy trăm cây số
THƠ TÌNH KẾ TOÁN
Yêu em, anh
chấp nhận đầu tư dài hạn
Dẫu biết mình tài sản chẳng hơn ai
Phải bổ sung bằng nguồn vốn đi vay
Chỉ mong được có em trong vòng tay duyên Nợ
Ta quen nhau
cũng gần hai niên độ
Biết bao nhiêu nghiệp vụ đã phát sinh
Tình yêu đâu là tài sản hữu hình
Mà sao cứ hao mòn theo năm tháng
Ta gặp nhau trong mỗi kỳ kế toán
Cứ ngỡ tình mình lãng mạn quá đi
Gặp thường xuyên, anh sợ khoản phải chi
Mà định kỳ em lại không đồng ý
Em đâu hiểu cùng tình yêu còn song hành tình phí
Anh phải hạch toán làm sao cho hợp lý cả hai bên
Xa em rồi anh mới lại hiểu thêm
Đường đến tim em phải dự phòng đau khổ
Để có tình yêu đôi khi đành chịu lỗ
Nhưng tình yêu đâu phân bổ được nhiều lần
Đến bây giờ anh vẫn mãi phân vân
Không hiểu tình yêu có cần tìm nguyên giá
Nỗi đau kia có thành Nợ mà anh phải trả
Xin để anh kết chuyển hết vào tim
Em có về xem lại nhật ký chung
Kỷ niệm một thời ta cũng nhau ghi sổ
Anh dự toán tình ta không dang dở
Em thì thầm: "Đừng ghi đỏ nhé anh!"
Thư tình anh bản báo cáo mong manh
Anh trao vội không thuyết trình gì cả
Bởi anh nghĩ ta không còn xa lạ
Chế độ hiện hành đã nói hộ lòng anh
Những lời yêu thực tế đích danh
Những tâm sự bình quân anh nói được
Những ước mơ nhập sau mà xuất trước
Em mỉm cười ghi nhận hết lòng anh
Còn nhớ không em những buổi chiều
Những chiều mưa chứng từ nào tả xiết
Lời nồng nàn anh trao em chi tiết
Thật dịu dàng em tổng hợp hết tình anh
Em trở về nhận lại vốn liên doanh
Kiểm kê lại những lần anh sơ ý
Kỷ niệm dẫu thừa xin em đừng xử lý
Để anh mãi coi là chi phí dở dang...
Ngày nọ, toàn họ nhà chim họp kiểm điểm ba chim: Cò, Vạc, Nông vi phạm
kỷ luật. Lợi dụng được giao quản lý một dư án đào ao nuôi cá, chúng để
bạn bè có lý lịch mờ ám vào ao ăn cá lén lút, gây thất thoát tài sản.
Nếu cứ kéo dài tình trạng " ăn rồi bay" này sự sống còn của họ nhà chim
trong thời đại mắc dịch mắc toi này bị đe doạ ! Phải xử lý! Kẻo thế
giới nhà chim lên án, thế giới Chim cắt nguồn ODACHIM, không cho vay ưu
đãi làm dự án...Phiên toà được công khai xét sử do Sếu làm chủ toạ
phiên toà. Luật sư Ngỗng làm bào chữa cho các bị cáo. Luật sư nói:" Cò
Vạc Nông là loại chủ yếu đi ăn cá chúng đã không lấy phương châm ăn cho
đủ, cho no theo truyền thống nhà chim mà chúng ăn dầy còn gọi đồng bọn,
anh em ruột thịt không lao động bằng đầu óc mình ( Đào ao nuôi cá ) vào
hôi của. Xét thấy thân nhân họ hàng gia đình của ba bị cáo này : thành
phần cơ bản, công to hơn tội nên dùng hình thức cảnh cáo, xử lý nội
bộ. Phiên toà không nhất trí, phải rời sang ngày khác.??? Phiên
toà được mở lại và chủ toạ phiên toà các thẩm phán , hội thẩm nhân dân
Chim đã được đánh động và cuối cùng người ta dùng hình thức cảnh cáo
Đảng ăn Cá và không xử theo tội phạm chung của loài chim. Tin loang ra
loài chim có câu vè truyền tụng cho đến đời sau rằng:
Bài vè mang tên: XỬ AI Bài vè đày khí thế " Nghệ Thực "
Con cò con vạc con nông Ba con mắc tội vặt lông con nào? Con Cò là cháu ngoại tao Con Vạc cũng cháu tính vào họ xa Con Nông em họ thông gia Liệu mà kiểm điểm cho qua nhẹ nhàng Con Cóc chẳng phải họ hàng Đưa ra xét xử đàng hoàng Công khai Phóng viên các báo các đài Đứa nào hỗn láo ;Bắt ngay tức thì
Minh Tài Nguồn báo Thé giới số 231 ( !7) Ngày 25-04-2006 trang 31Có cải biên
Kính gửi Tiến sỹ luật Hà Hùng Cường, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Thưa Bộ trưởng,
Tôi, Nguyễn Quang A, công dân Việt Nam, có hộ khẩu tại 19 Đoàn Nhữ
Hài, Phường Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nguyên Viện trưởng
Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, xin gửi Bộ trưởng lời chào trân trọng.
Ngày 8-9-2009 Bộ trưởng đã thừa ủy quyền của Thủ tướng ký công văn
số 3182/2009/BTP-PLDSKT (sau đây gọi tắt là công văn 3182) trả lời Kiến
nghị ngày 6-8-2009 của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS gửi Thủ tướng
Chính phủ. Công văn 3182 đã được đưa lên trang tin điện tử của Chính
phủ ngày 19-9-2009 và sau đó đã được nhiều báo trong nước đăng lại.
Kiến nghị ngày 6-8-2009 cùng với Tuyên bố ngày 14-9-2009 của Viện IDS
đã phân tích những điểm sai cả về nội dung và thủ tục của Quyết định số
97/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục các lĩnh vực
cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (sau đây gọi tắt
là QĐ 97).
Trong thư này, tôi chỉ trình bày với Bộ trưởng về thủ tục, trình tự
xây dựng QĐ97 dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trong
thời gian xây dựng, soạn thảo, thẩm định và ban hành QĐ97, tức là trong
năm 2008 và 2009.
- Ngày 29-11-2006, Quốc hội đã ra Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê
chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế
giới (WTO); Nghị định thư đã được Chủ tịch nước công bố ngày
19-12-2006, có hiệu lực thi hành từ 11-1-2007. Nghị định thư có kèm
theo Phụ lục các cam kết của Việt Nam phải áp dụng trực tiếp mà điều
liên quan đang bàn tới ở đây được nêu rõ tại Điểm 4 của Nghị Quyết số
71:
"Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan,
tổ chức hữu quan tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham
gia góp ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản.
Cơ quan chủ trì soạn thảo phải đăng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật
của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ trên Trang tin
điện tử của Chính phủ và dành thời gian không ít hơn 60 ngày, kể từ ngày đăng dự thảo để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý vào dự thảo".
....
"Trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp
với quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị
định thư và các tài liệu đính kèm thì áp dụng quy định của Hiệp định
thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu
đính kèm".
Như thế, kể từ ngày 11-1-2007 các thủ tục trên là bắt buộc (thay cho
các thủ tục của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nếu
các thủ tục ấy trái với Nghị định thư).
- Ngày 11 tháng 6 năm 2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kí công văn số 732/TTg-TCCB yêu cầu các Bộ và các cơ quan thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết 71 của Quốc hội.
- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày
6-6-2008, có hiệu lực từ 1-1-2009 (sau đây gọi tắt là Luật số 17/2008)
quy định tại điều 67:
"Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm đăng tải toàn văn dự
thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên trang thông tin điện tử
của Chính phủ hoặc của cơ quan soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu
mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến....
Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến của cơ quan thẩm định, ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo và báo cáo Thủ tướng Chính phủ".
Theo các quy định nêu tại Nghị quyết 71 của Quốc hội, Nghị định thư
gia nhập WTO và Luật số 17/2008, việc soạn thảo, thẩm định và ban hành
QĐ97 đã không thực hiện hai điều có ý nghĩa quan trọng đối với chất
lượng của văn bản:
tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản;
công bố dự thảo ít nhất 60 ngày trước khi trình lên Thủ tướng.
Như vậy, về thủ tục, QĐ 97 không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam mà còn trái với cam kết quốc tế.
Thế mà, trong công văn 3182 Bộ trưởng lại khẳng định:
Quyết định 97 đã "được cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai xây dựng từ đầu năm 2008. Toàn
bộ các bước soạn thảo; lấy ý kiến các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, cá
nhân; lấy ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và trình Thủ tướng Chính phủ
dự thảo Quyết định đã được hoàn tất trong năm 2008 theo đúng quy định
của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2002. ... Vì vậy, việc xây dựng và ban hành Quyết định số 97 là đúng thẩm
quyền, đúng trình tự, đúng thủ tục, không vi phạm Điều 67 Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật năm 2008" .
Nói cách khác, ông Bộ Trưởng đã viện dẫn đến các điều của Luật Ban
hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002. Ông đã
không lưu ý rằng nếu các điều ấy trái với Nghị quyết 71 và Nghị định
thư gia nhập WTO, thì phải áp dụng Nghị quyết 71 và Nghị định thư.
Tại công văn 3182, Bộ trưởng cho rằng vì việc soạn thảo, lấy ý kiến,
thẩm định và trình Thủ tướng đã hoàn tất trong năm 2008 (nghĩa là trước
ngày Luật số 17/2008 có hiệu lực thi hành) nên việc không công bố dự
thảo 60 ngày trước khi trình Thủ tướng không vi phạm thủ tục (vì điều
này không được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật
có hiệu lực đến hết năm 2008). Lập luận như vậy đã bỏ qua, không đếm
xỉa tới Nghị quyết 71 của Quốc hội và văn bản 732/TTg-TCCB của Thủ
tướng Chính phủ.
Công văn 3182 còn lập luận rằng "Những việc được thực hiện trong năm 2009 (nghĩa là từ khi Luật số 17/2008 có hiệu lực) chỉ
là nghiên cứu ý kiến tham gia, cân nhắc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo
Quyết định để ký ban hành. Ở giai đoạn này, ngay Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật 2008 cũng không quy định cơ quan soạn thảo phải đăng
tải dự thảo Quyết định trên trang thông tin điện tử". Sự biện
bạch này rất khiên cưỡng vì người dân không thể biết quy trình soạn
thảo, lấy ý kiến, thẩm định được tiến hành vào thời gian nào, chỉ thấy
một sự thật hiển nhiên là QĐ 97 được ban hành sau hơn 200 ngày luật số
17/2008 có hiệu lực (gấp hơn ba lần thời gian cần công bố để lấy ý kiến
rộng rãi) mà không thực hiện một quy định của Luật rất quan trọng và
thiết thực đối với quyền làm chủ của dân. Như vậy, không thể coi QĐ 97
là "đúng trình tự, thủ tục, không vi phạm điều 67 Luật số 17/2008" như biện bạch của Bộ trưởng trong công văn 3182.
Điều kiện bắt buộc để bảo đảm tính hợp pháp của một văn bản pháp quy
là việc xây dựng, soạn thảo, thẩm định phải chấp hành đúng các thủ tục
quy định.Chỉ xét riêng về mặt vi phạm thủ
tục, chưa nói tới những sai phạm về nội dung (như Viện IDS đã phân tích
trong kiến nghị ngày 6-8-2009 và trong tuyên bố ngày 14-9-2009), QĐ 97
đã không thể được coi là hợp pháp.
Vì vậy, tôi tha thiết đề nghị Bộ trưởng, với tư cách là Thủ trưởng
cơ quan có chức năng và trách nhiệm xây dựng và nắm vững pháp chế về
ban hành văn bản quy phạm pháp luật và chịu trách nhiệm tổ chức, kiểm
tra việc thực hiện pháp chế đó, thừa nhận rằng QĐ 97 vi phạm thủ tục
quy định trong Nghị quyết 71 của Quốc hội, công văn chỉ đạo số 732 của
Thủ tướng, Nghị định thư gia nhập WTO và Luật số 17/2008; trên cơ sở
đó, kiến nghị với Thủ tướng hủy bỏ QĐ 97, giao cho các cơ quan hữu
trách thu thập ý kiến rộng rãi và nghiên cứu kỹ hơn để xây dựng văn bản
phù hợp với luật pháp, thấu suốt tinh thần Nghị quyết về trí thức đã
được Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X thông qua
tháng 7 năm 2008. Cách làm này sẽ góp phần củng cố lòng tin của dân đối
với Chính phủ và Thủ tướng, nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật, cải
thiện hình ảnh của nước ta và tránh được rắc rối quốc tế có thể xảy ra;
tránh được việc các trí thức hay công dân có thể dùng các công cụ pháp
lí hợp pháp để kiến nghị Ủy Ban Thường vụ Quốc hội tuyên QĐ97 là vô
hiệu.
Tôi viết thư ngỏ vì công văn thể hiện quan điểm của Bộ Tư pháp về
vấn đề này đã được đưa công khai trên mạng và mong rằng thư trả lời của
Bộ trưởng cũng dưới hình thức công khai để những người quan tâm đến vấn
đề này có thể bày tỏ ý kiến, giúp cho việc đánh giá và giải quyết vấn
đề được thấu đáo.
Suy nghĩ 1 : Ông Thiện Ý Tống Văn Công thì tôi
chưa biết nhưng ông Hoàng Hưng thì tôi đã thuộc thơ ông qua bài ‘'Gửi
anh'', bài thơ này theo tôi suốt chặng đường quân ngũ mỗi khi đọc thơ, ngâm bài
thơ này trước hàng quân lính tráng chúng tôi vững dạ về hậu phương và tăng thêm
niềm sinh khí mới. Nhất là đoạn kết của bài này :
Mẹ không còn để
gói cho anh bát cơm nếp đỗ
Vụng về em giã tạm
cối vừng
Anh đi rồi mùi
thơm mãi bâng khuâng
Ông Hoàng Hưng đã biết chi
tiết về ông Tống Văn Công tôi tin là ông Hoàng Hưng nói đúng
Suy nghĩ 2 : Ông Phạm Toàn tôi đã gặp ông trong cuộc
hội thảo về kịch của tác giả Vũ Đình Long, tôi thấy ông cởi mở, thẳng thẵn,
chân thành Ông còn có bút danh là Châu Diên, nhưng bài viét trên ông không ký
bút danh ( Nếu có ký tên Châu Diênthì
nhiều người đọc vẫn biết ông là thày giáo Phạm Toàn ). Vả laị khi đăng ý kién
của mình ông tải luôn lên mạng bài viết của ông Tâm Việt. Tôi thấy Thày giáo
Phạm Toàn nó đúng quá, cả bài viết của ông Thiện Ý Tống Văn Công cũng đúng. Hãy
xem Thàygiáo Phạm Toàn viết : ‘'
Bài của Tâm Việt tuy không chỉ đích danh Tống Văn Công, song đọc lên ai ai cũng
rõ là có thể coi đây như một bản nháp cho bản luận tội. Bài của Tâm Việt xét
trên tư cách riêng, nó như một bài tập viết văn nghị luận theo một cái sườn cho
sẵn thì có thể cho điểm cao. Nhưng nó có khuyết điểm rất quan trọng: xa rời
thực tiễn đất nước và bóp méo ý tưởng Tống Văn Công.''
Suy nghĩ 3 : Vậy ông Tâm Việt ông là ai ? Tìm
trong google.com thì : Kết quả:
1
- 10 trong khoảng 5.870.000 cho tam viet. (0,10
giây) thì không thấy tên Tác giả Tâm Việt. Tôi nhớ lại những năm trước
có bài viết mà mọi người tìm mãi mới biết tác giả thật của nó là Nguyễn Biên
Cương. Và Vì sao ông Tâm Việt không dám ký tên thật của mình ???
Và trên trang: bauxitevietnam.info mọi người đều thấy
cả hai văn bản đối chiếu để có ý kiến phản biện đúng sai! Nhưng báo quân đội
nhân dân thì không có bài của ông Thiện Ý Tống Văn Công ?
Người Việt Nam mãi mãi ghi danh những anh hùng chiến sỹ đã bỏ mình vì
nước ( kể cả những anh hùng như Nguỵ Văn Thà hy sinh giữ biển đaỏ ) ; mãi mãi
ghi danh những danh nhân văn hoá, khoa học kỹ thuât làm dạng rỡ non sông ta, đất
nứơc ta; đồng thời lịch sử cũng không quên những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống....
mong rằng con cháu sẽ không ghi tên Nguyễn Biên Cương và Tâm Việt vào trang những
người không quên.
Anh Trần Manh Hảo người Nghĩa Hưng Nam Định. Anh cùng quê với tôi. Tôi nhận thế mong anh Hảo thứ lỗi. Biết đâu anh lại bảo rằng :" tao đồng hương đồng khói gì với mày"
Tôi đọc thơ anh say mê nay có bài tôi cảm thấy rất hay. Xin pots cùng các bạn
Normal
0
false
false
false
MicrosoftInternetExplorer4
NẾU TỔ QUỐC TÔI KHÔNG CÒN BIỂN
Mất Hoàng Sa, Trường Sa
Rồng Việt Nam không còn chỗ núp
Không có lối ra
Tổ Quốc như bị giam trong ngục
Xin Ngô Quyền trở về
Xin Trần Hưng Đạo trở về
Dìm quân xâm lược
Tổ Quốc nguy nan
Mỗi người Việt Nam
Hóa thành cọc nhọn
Bán đảo Đông Dương biển mất gần hết
Hồng Hà biết chảy về đâu ?
Cửu Long rồi giãy chết ?
Linh hồn cha Lạc Long Quân
Không còn chốn đi về
Cái lưỡi bò ngọai tộc
Rót vào tai nhà đương cục
Mười sáu chữ vàng
Miệng vờ ôm hôn
Tay lừa bóp cổ
Lưỡi bò đang liếm sạch biển Đông
Trọng Thủy xưa
Từng dùng lưỡi bò tỏ tình
Lừa tình cướp nỏ
Lừa tình cướp nước
Trong miệng người anh em
Giấu một lưỡi bò
Nếu Tổ Quốc không còn biển
Dân tộc tôi sẽ chết đuối trên bờ
Chết đuối trên cao nguyên
Chết đuối trong bùn bô-xít
Tổ Quốc không chịu chết
Biển Đông gầm đang hóa Bạch Đằng Giang